by Admin
Post on 2023-03-24 22:24:37
CẬP NHẬT QUYẾT ĐỊNH 5631/QĐ-BYT VỀ VIỆC BAN
HÀNH tài liệu "Hướng dẫn thực hiện quản lý
SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG BỆNH VIỆN”
DS.CKI. Mai Hoài Trang, ThS.DS. Dương Hà Minh Khuê, DS. Nguyễn Ngọc Cát Anh
Ngày 31/12/2020, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tài liệu về “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” kèm theo Quyết định 5631/QĐ-BYT, thay thế cho Quyết định số 772/QĐ-BYT ngày 04/03/2016. Quản lý chặt chẽ và có chiến lược sử dụng hợp lý là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân, tránh lạm dụng thuốc, góp phần bảo tồn lượng kháng sinh còn lại trên thế giới trước tình trạng đa kháng và kháng trị liệu kháng sinh ngày càng gia tăng. Bài viết này sẽ tóm lược các điểm chính yếu của quyết định này và một số áp dụng tại bệnh viện.
Một số nội dung cần chú ý khi xây dựng Hướng dẫn lựa chọn kháng sinh:
So với Quyết định số 772-QĐ/BYT (2016), Quyết định 5631-QĐ/BYT nhấn mạnh về việc chuyển đổi kháng sinh đường tiêm sang đường uống và việc xây dựng nhóm kháng sinh ưu tiên quản lý và giám sát sử dụng.
a. Chuyển đổi kháng sinh đường tiêm sang đường uống
Tiêu chí chuyển đổi kháng sinh đường tiêm sang đường uống:
|
° Nhiễm khuẩn huyết nặng, nhiễm khuẩn huyết do S.aureus. ° Viêm mô tế bào hoặc viêm cân cơ hoại tử. ° Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (viêm não, viêm màng não). ° Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. ° Viêm trung thất. |
|
° Đợt cấp bệnh xơ nang. ° Giãn phế quản. ° Nhiễm trùng mô sâu, ví dụ áp xe, viêm mủ màng phổi. ° Viêm tủy xương. ° Nhiễm trùng hoại tử mô mềm ° Viêm khớp nhiễm khuẩn. ° Nhiễm khuẩn liên quan đến các thiết bị cấy ghép. |
- Bốn nhóm kháng sinh áp dụng chuyển từ đường tiêm/truyền sang đường uống:
|
Nhóm |
Định nghĩa |
Kháng sinh |
|
Nhóm 1 |
Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống cao (>90%), hấp thu tốt và dung nạp tốt ở liều tương tự liều đường tiêm |
Levofloxacin Linezolid Cotrimoxazol Moxifloxacin Fluconazol Metronidazol |
|
Nhóm 2 |
Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống thấp hơn (70-80%) nhưng có thể bù trừ bằng cách tăng liều của kháng sinh uống |
Ciprofloxacin Voriconazol |
|
Nhóm 3 |
Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống cao (>90%) nhưng có liều tối đa đường uống thấp hơn so với liều đường tiêm (do dung nạp tiêu hóa kém) |
Clindamycin Cephalexin Amoxicillin |
|
Nhóm 4 |
Kháng sinh có sinh khả dụng đường uống thấp hơn và liều tối đa thấp hơn đường tiêm |
Cefuroxim |
|
Ghi chú |
Nhóm 1-2 có thể sử dụng ban đầu qua đường uống cho các nhiễm khuẩn không đe dọa tính mạng, bệnh nhân có huyết động ổn định và không có vấn đề về hấp thu, có thể sử dụng trong chuyển tiếp IV/PO nếu đáp ứng điều kiện lâm sàng. Nhóm 3-4 có thể sử dụng trong chuyển tiếp IV/PO theo nguyên tắc: sau khi nhiễm khuẩn cơ bản đã được giải quyết bằng kháng sinh đường tiêm ban đầu, kết hợp tác dụng của kháng sinh với tình trạng miễn dịch của người bệnh. |
|
- Áp dụng 3 hình thức chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm/truyền sang đường uống trong điều trị như sau:
° Điều trị tiếp nối (Sequential therapy): chuyển từ kháng sinh đường tiêm sang kháng sinh đường uống cùng hoạt chất.
° Điều trị chuyển đổi kháng sinh tiêm uống (Switch therapy): chuyển đổi từ kháng sinh đường tiêm sang kháng sinh đường uống cùng nhóm, nhưng kháng sinh đường uống có thể là hoạt chất khác, có cùng hoạt lực và phổ tác dụng.
° Điều trị xuống thang (Scale down therapy): Chuyển đổi từ kháng sinh đường tiêm sang kháng sinh đường uống khác có thể cùng loại, cùng nhóm hoặc khác nhóm với kháng sinh đường tiêm. Tuy nhiên, tần suất, liều dùng và phổ tác dụng có thể không hoàn toàn tương tự như kháng sinh đường tiêm.
b. Xây dựng nhóm kháng sinh ưu tiên quản lý và giám sát sử dụng
Kháng sinh cần ưu tiên quản lý sử dụng tại bệnh viện là các kháng sinh được xây dựng trên nguyên tắc:
Danh mục kháng sinh cần ưu tiên quản lý và giám sát sử dụng:
Kháng sinh cần ưu tiên quản lý - Nhóm 1 là các kháng sinh dự trữ, thuộc một trong các trường hợp sau: lựa chọn cuối cùng trong điều trị các nhiễm trùng nặng khi đã thất bại hoặc kém đáp ứng với các phác đồ kháng sinh trước đó; lựa chọn điều trị các nhiễm khuẩn nghi ngờ hoặc có bằng chứng vi sinh xác định do vi sinh vật đa kháng; là kháng sinh để điều trị các nhiễm khuẩn nặng do vi sinh vật kháng thuốc, có nguy cơ bị đề kháng cao nếu sử dụng rộng rãi, cần cân nhắc chỉ định phù hợp; kháng sinh có độc tính cao cần giám sát nồng độ điều trị thông qua nồng độ thuốc trong máu (nếu có điều kiện triển khai tại cơ sở) hoặc giám sát chặt chẽ về lâm sàng và xét nghiệm để giảm thiểu các tác dụng không mong muốn và độc tính.
Lưu ý khi duyệt kháng sinh cần ưu tiên quản lý Nhóm 1
° Điều trị kinh nghiệm được áp dụng với kháng sinh nhóm 1 cho những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, nghi ngờ do vi khuẩn kháng thuốc. Khuyến cáo (nếu điều kiện cho phép) lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm vi sinh trước khi sử dụng kháng sinh và điều chỉnh phác đồ (nếu cần) sau khi có kết quả vi sinh kết hợp với đánh giá đáp ứng lâm sàng của người bệnh;
° Liều dùng của kháng sinh trong quá trình điều trị có thể thay đổi theo diễn biến sinh lý bệnh và đáp ứng lâm sàng của người bệnh, không cố định theo thời điểm duyệt. Bác sĩ cần ghi rõ trong bệnh án khi điều chỉnh liều thuốc;
° Quy định thời gian duyệt: trước khi sử dụng hoặc trong vòng 24 - 48 giờ với trường hợp cấp cứu/ngoài giờ hành chính;
° Thời gian sử dụng kháng sinh không vượt quá 14 ngày cho mỗi lần duyệt, cần đánh giá lại đáp ứng của người bệnh để quyết định hướng xử trí tiếp theo khi vượt quá thời gian này;
° Người được ủy quyền duyệt là nhân viên y tế được Ban quản lý sử dụng kháng sinh có quyết định phân công công việc, ưu tiên Dược sĩ làm công tác Dược lâm sàng/Bác sĩ chuyên khoa Hồi sức tích cực hoặc các bác sĩ có kinh nghiệm trong lĩnh vực điều trị các bệnh Nhiễm trùng và sử dụng kháng sinh hợp lý;
° Trong trường hợp người được ủy quyền duyệt có ý kiến khác với bác sĩ điều trị, việc sử dụng thuốc cần được hai bên trao đổi và thống nhất dựa trên tình trạng lâm sàng cụ thể của người bệnh.
- Kháng sinh cần theo dõi, giám sát sử dụng - Nhóm 2:
Kháng sinh cần theo giõi, giám sát sử dụng - Nhóm 2 là kháng sinh được khuyến khích thực hiện chương trình giám sát sử dụng tại bệnh viện bao gồm giám sát tiêu thụ kháng sinh, giám sát tỷ lệ đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh, thực hiện các nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc để có can thiệp phù hợp tùy theo điều kiện của bệnh viện.